Trải nghiệm và minh chứng

Responsive image

Adam Kirsch bình luận về Imre Kertész, một nhà văn Hungary sống sót qua cuộc đại thảm sát, vì nó mà ông bị ám ảnh cả cuộc đời và không thể viết về bất cứ thứ gì khác. Các tác phẩm của ông là cuốn tự truyện dài, u ám và ngột ngạt.

Sự nghiệp văn chương của Imre Kertész đầy những quằn quại như một vở kịch mêlô(1). Sinh năm 1929 ở Budapest trong một gia đình Do Thái bị đồng hóa sâu sắc, Kertész bị đày đến Auschwitz năm 1944. Ông sống sót ở đó và ở Buchenwald, đến khi các trại giam được giải phóng, rồi trở lại Hungary, nơi ông hoạt động với tư cách một nhà báo, công nhân nhà máy, nhà văn tự do và dịch giả. Phải mất một thập kỷ ông mới hoàn thành cuốn tiểu thuyết đầu tiên - Không số phận (Sorstalanság), kể lại cuộc sống của mình trong các trại tập trung. Khi ông hoàn tất, không một nhà xuất bản ở Hungary nào đả động đến nó. Không số phận không hề xuất hiện cho tới năm 1975; các tiểu thuyết sau đó của ông cũng vậy, Kinh cầu cho một đứa trẻ chưa ra đời (Kaddis a meg nem született gyermekért) không được người Hungary chú ý nhiều.

Một sự trớ trêu khắc nghiệt, chính là ở Đức - nơi Kertész có mối liên hệ như một dịch giả văn học hiện đại Đức sang tiếng Hungary, và nơi ông chuyển đến sinh sống - tác phẩm của ông có ảnh hưởng lớn nhất. Thậm chí, Kertész còn vô danh tới mức việc ông được trao giải Nobel Văn học năm 2002 là một bất ngờ lớn. Mặc dù Kertész là nhà văn Hungary đầu tiên đoạt giải Nobel, nhưng nó khiến ông nhận được sự thù địch từ những người cánh hữu và bài Do Thái ở quê nhà, họ bực bội vì một người Do Thái viết lách cởi mở về sự ghẻ lạnh mà ông phải chịu đựng ở người Hungary không đáng được vinh danh như thế. Trong khi ở Mỹ, chỉ một vài tác phẩm của ông được xuất bản với số lượng hạn chế, và gần như không ai biết đến tên tuổi ông.

Sau giải Nobel, sách Kertész bắt đầu xuất hiện qua các bản dịch tiếng Anh của Tim Wilkinson, nhưng không theo trình tự thời gian. Không số phận giới thiệu bản ngã khác của Kertész: cậu thiếu niên Gyorgy Koves trải qua những khoảnh khắc trong trại tập trung giống như tác giả (nhưng không chính xác hoàn toàn, Kertész khẳng định). Kinh cầu cho một đứa trẻ chưa ra đời, cuốn sách tiếp theo ở Mỹ của ông, là cuốn thứ ba trong bộ ba, kể về Koves, một người trung niên - người giải thích trong lời độc thoại đầy giận dữ vì sao ông từ chối đem một đứa trẻ đến một thế giới có khả năng rơi vào Cuộc Đại thảm sát.

Chỉ đến bây giờ, với sự xuất bản Thất bại, chúng ta có tác phẩm thứ hai trong bộ ba tác phẩm. Nếu Không định mệnh được viết với giọng điệu giả ngây ngô trong sáng, nên được so sánh với Ngay thẳng, hay lạc quan của Voltaire, và Kinh cầu cho một đứa trẻ chưa ra đời sử dụng lối hài hước lỗ mãng của Thomas Bernhard, thì những bóng ma của Thất bại rõ ràng là Beckett và Kafka, những bậc thầy về lối viết mang tới sự hỗn loạn và tuyệt vọng.

Một phần ba đầu tiên của Thất bại cho thấy một nhà văn trung niên, người rõ ràng là Kertész, mặc dù ông được ám chỉ như một “cậu bé nhiều tuổi” bằng cách kết hợp tính thân mật và sự khinh bỉ. Giống như Kertész, “cậu bé nhiều tuổi” là một nhà văn và dịch giả với tác phẩm cuộc đời là tiểu thuyết tự truyện về cuộc đại thảm sát - cuốn sách khiến ông mất một thập kỷ để hoàn thành, và lúc đầu bị các nhà xuất bản vùi dập. Hiện giờ ông đang tìm kiếm chủ đề cho một cuốn khác, không phải vì ông thực sự muốn viết, mà vì ông đã trở thành một nhà văn chuyên nghiệp, thật tình cờ dù ít dù nhiều.

Cốt truyện phần đầu tiên của Thất bại đến trực tiếp từ vở kịch Cuốn băng cuối cùng của Krapp của Beckett. Khi tìm kiếm nguồn cảm hứng, “cậu bé nhiều tuổi” lục lọi ngăn kéo hồ sơ của mình và đọc to những ghi chép và hồi ức cũ, chỉ để làm xẹp những ước vọng của chúng, với những lời cảm thán lẩm bẩm - giống như Krapp làm khi nghe lại hồi ức từ băng âm thanh. Tác động của những lời tự ngắt như “Aha!”, “Lạy Chúa tôi” phụ thuộc vào một cảm giác chắc chắn về việc căn cơ thời gian và hài kịch lặp, điều Kertész may mắn sở hữu. Chuyển ngữ lời văn đó sang tiếng Anh nhấn mạnh rằng nó đã bị ảnh hưởng từ Beckett như thế nào. Kết quả là Thất bại có vẻ quen thuộc hơn qua bản dịch so với nguyên bản - một trong những trớ trêu của ảnh hưởng văn học.

Ký ức của “cậu bé nhiều tuổi” hiện rõ - giữa sự quấy rầy từ vợ, từ bà mẹ hay rầy la, và từ mụ hàng xóm tầng trên - diễn ra từ thời điểm ông hoàn thành cuốn tiểu thuyết đầu tiên nhưng không thể xuất bản. Đây chính là sự thất bại mà tiêu đề nhắc đến, và Kertész tìm thấy một sự mê hoặc tai quái khi đào sâu vào tâm lý và những hàm ý hiện sinh trong thất bại của ông. Ông cày xới lá thư từ chối xuất bản ngày 27.7.1973 với lời mô tả gợi nhớ đến Không số phận. Thực sự, đó có thể chính là bức thư Kertész đã nhận được: “Chúng tôi cho rằng cách diễn đạt nghệ thuật của ông với nguyên liệu là những trải nghiệm của ông không hề thoát ý, trong khi bản thân chủ đề lại khủng khiếp và gây sốc”.

Tất cả bộ máy hư cấu biến đổi này phục vụ Kertész như một cách tiếp cận vấn đề cốt lõi của phần đầu tiên: viết về cuộc đại thảm sát để làm gì? Trí tưởng tượng tương tác như thế nào với sự thật và những câu chuyện mà chúng ta đều coi là không thể tưởng tượng nổi? Thậm chí là một người sống sót sau cuộc đại thảm sát không hề khiến Kertész miễn nhiễm trước hiện thực quái đản khi đọc về nó. Ví dụ, ông nhớ lại một câu chuyện cực kỳ rùng rợn về vụ giết 340 người Do Thái Hà Lan tại một mỏ đá ở Mauthausen: họ bị ép phải mang những tảng đá hộc lên một cầu thang dốc đứng, bị đánh nếu làm rơi đá, cho đến khi họ đầu hàng bạo lực, thương tật, hoặc tự sát.

Điều gì đã xảy ra khi Kertész hoàn thành định mệnh của ông - khi ông biến những trải nghiệm bản thân từ cuộc đại thảm sát thành Không số phận, và đem đến một thế giới gần như thờ ơ? Ông nhận ra ông vẫn phải viết, vì không thể làm gì khác. Đây là thất bại thứ hai, nhưng khó phát hiện hơn: thất bại không phải vì thất bại mà vì thành công. Vì thế, bất chấp tất cả những phản kháng của ông rằng ông không có gì để nói, rằng những ghi chép cũ không có gì thú vị, hay ông muốn nghỉ ngơi, “cậu bé nhiều tuổi” ngồi xuống bên máy chữ và sản xuất một tiểu thuyết: cuốn tiểu thuyết nằm trong một cuốn tiểu thuyết tạo thành phần thứ hai và dài hơn của Thất bại.

Vì thế, ở trang 119 của cuốn sách, chúng ta được tiêu đề “Chương 1” chào đón, và “cậu bé nhiều tuổi” dành lại đất diễn cho Koves - bản ngã khác của Kertész nhằm mục đích kể lại câu chuyện. Cùng lúc đó, ảnh hưởng của Beckett đem đến một màn sương “mang tính Kafka(2). Koves tỉnh giấc để tìm kiếm bản thân trên một máy bay rời khỏi Budapest đến một nơi xa xôi - “ông đã bay được mười sáu giờ đồng hồ”. Nhưng khi máy bay hạ cánh, ông rơi vào một thứ đơn giản chỉ là Budapest - nhưng là thời điểm cuối những năm 1940, thành phố chàng Koves trẻ đã trải nghiệm khi anh trở về từ Buchenwald.

Không điều gì ở trên được diễn đạt trực tiếp. Nhưng không giống những câu chuyện của Franz Kafka, trong đó chúng ta có thể ở bất cứ đâu, chắc chắn là Kertész đang viết tự truyện. Mục đích của phong cách kiểu Kafka là nhấn mạnh sự hoang mang của người tỵ nạn trở về, cụ thể là người đó mất khả năng định hướng trong xã hội Hungary. Đến nay, những phiên tòa nhiều đến mức không thể đếm được trong Phiên tòa và nạn quan liêu phi lý của nhà nước Hungary là giống nhau, và phần lớn nửa thứ hai của Thất bại diễn ra như dự kiến. Koves bị sa thải, rồi lại được thuê, và bị điều chuyển dưới chỉ thị từ quyền lực tối cao giấu mặt. Mọi người sợ phải nói cởi mở về những điều xảy đến với họ. Những đôi tình nhân lao vào nhau say đắm, rồi chia tay trong khinh bỉ.

Kertész cho chúng ta thấy câu chuyện “tạo dựng” của Koves giống câu chuyện “thật” của “cậu bé nhiều tuổi” một cách đầy thông minh. Những trang cuối của tác phẩm, Koves kết thúc bằng một đoạn hội thoại triết lý với Berg (một tội phạm chiến tranh, dù chúng ta không biết chính xác hắn phạm tội gì) dội lại những tư tưởng ở đoạn đầu Thất bại. Và hình ảnh của những người Do Thái Hà Lan mang vác đá hộc, sự độc ác gợi nhớ thần thoại về Sisyphus(3), và trở lại dưới hình thức chữ nghĩa đầy khó hiểu ở những trang cuối cuốn tiểu thuyết. Đến cuối cuốn sách tinh tế và có sức nặng này, nó giống như dải Mobius(4) hay một con rắn tự nuốt đuôi của mình - biểu trưng thích hợp cho một cuộc sống bị nghệ thuật nuốt chửng, và một nghệ thuật bị nuốt chửng bởi điều mà vì nó người sáng tạo nghệ thuật phải sống.